TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ

Ngành K.Toán - Tài chính - Thuế,Thuế
  Đánh giá    Viết đánh giá
 0      321      0
Phí: Tải Miễn phí
Mã tài liệu
05vntq
Danh mục
Ngành K.Toán - Tài chính - Thuế,Thuế
Thể loại
TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ,đối tượng thu thuế
Ngày đăng
9/1/2014
Loại file
pdf
Số trang
14
Dung lượng
0.27 M
Lần xem
321
Lần tải
0
  DOWNLOAD

TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ

HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu thuvienmienphi bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên thuvienmienphi
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  

NỘI DUNG TÀI LIỆU

TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ

 

HÌNH ẢNH DEMO
Tài liệu TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ slide 1

Tài liệu TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ slide 2

Tài liệu TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ slide 3

Tài liệu TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ slide 4

Tài liệu TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ slide 5


Chỉ xem 5 trang đầu, hãy download Miễn Phí về để xem toàn bộ
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Ful
ight
Tài chính công
Thu thuế tại các nước đang phát triển
Niên khoá 2005-2006
Bài đọc
Ch 25 Tiếp cận những đối tượng khó
thu thuế
TIẾP CẬN NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHÓ THU THUẾ
Hiếm có những chuyên gia thuế nào trải qua hơn một ngày tại một đất nước đang
phát triển mà không nghe những câu chuyện buồn về nỗi khó khăn to lớn người ta phải
đương đầu trong việc thu thuế những người hành nghề chuyên môn (các bác sĩ, luật sư
vv…), những người kinh doanh nhỏ, và dĩ nhiên cả những chủ trại khấm khá rơi vào
phạm vi pháp lý của thuế thu nhập (Taylor, 1967). Như một qui luật, những người này
chủ yếu hoạt động trong một nền kinh tế tiền mặt. Họ không sẵn lòng cung cấp bất kỳ
thông tin gì về hoạt động của họ cho cơ quan thuế, và cơ quan thuế thật khó khăn trong
việc truy tìm những thông tin đó – đôi khi vì những lý do chính trị, nhưng đôi khi chỉ đơn
thuần vì người nộp thuế thực sự không có hồ sơ lưu trữ thông tin. Hơn nữa, cơ quan thuế
cũng gặp khó khăn tương tự trong việc xây dựng bất kỳ một cơ sở nào khác để dựa vào
đó mà đưa thu nhập của những người khét tiếng là khó thu thuế này vào trong phạm vi
điều chỉnh của thuế thu nhập. Kết quả là những người làm công ăn lương tại các nước
đang phát triển nói chung sẽ cảm thấy bị đánh thuế thái quá, và rất thường xuyên bị đánh
thuế thái quá so với những người tự làm chủ.
Một hành động phản ứng trước tình thế này là triển khai loại thuế thu nhập “lập
iểu” đã được mô tả và phê phán trong chương 17. Một phản ứng khác nữa là ra sức cân
đối sự rộng rãi không được mong đợi dành cho những người tự làm chủ bằng một sự rộng
ãi đền bù cho những người làm công; ví dụ thông qua việc tạo ra một hệ thống dự phòng
miễn thuế đặc biệt như từng thịnh hành ở Jamaica trước cuộc cải cách thuế gần đây (Alm
và Bahl, 1985). Phương pháp thứ ba, được mô tả trong chương trước, là khôi phục thế cân
ằng không phải bằng cách hạ thấp thuế đối với những người làm công ăn lương mà là
tăng thuế đối với những người tự làm chủ (và những người hưởng thu nhập từ vốn) thông
qua ban hành “thuế tối thiểu” tổng quát. Những khoản thuế như vậy đã tiến tới đóng một
vai trò quan trọng ngay cả tại những nước phát triển như Hoa Kỳ và Canada trong những
năm gần đây, và lập luận thiên về phía các loại thuế này xem ra mạnh hơn rõ ràng tại các
nước phát triển.
Một phương pháp có liên quan nhưng tương đối khác biệt về nguyên tắc mà cũng
đi đến cùng một mục đích sẽ được mô tả trong đoạn trích sau đây từ một báo cáo về
Bolivia. Về cơ bản, phương pháp này cốt yếu là triển khai những kỹ thuật “hợp lý” đặc
iệt để ước lượng thu nhập trong các ngành khác nhau. Phương pháp này, có lẽ đã được
triển khai sâu rộng nhất ở Israel (Lapidoth, 1977), cũng đã được vận dụng trong những
chừng mực khác nhau và với mức độ thành công khác nhau ở nhiều nước khác (Bird,
1983; Tanzi và Casanegra, 1987). Phần chọn lọc sau đây trình bày các ưu điểm – quả thật,
gần như là sự cần thiết – của một phương pháp như thế tại một nước đang phát triển, và
mô tả khá chi tiết cách thức tiến tới thực hiện phương pháp đó. Cho dù rõ ràng là các chi
tiết cần phải thay đổi để phù hợp với tình huống, nhưng phương pháp chung trình bày ở
đây xem ra đáng được chú ý kỹ lưỡng tại nhiều quốc gia.
Xem ra chúng ta cũng cần bổ sung thêm hai nhận xét chung về phương pháp hợp
lý mà đã được tán thành ở đây. Thứ nhất, như đã đề cập trong lời giới thiệu của phần này,
điều quan trọng là phân biệt rõ ràng phương pháp này với hệ thống “thuế khoán” có bề
ngoài khá tương tự. Trong cả hai phương pháp này, thu nhập đều được ước lượng trên cơ
R. M. Bird & O. Oldman
1
Biên dịch: Kim Chi
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Ful
ight
Tài chính công
Thu thuế tại các nước đang phát triển Ch
Bài đọc
25 Vươn tới những người khó thu thuế
sở những yếu tố “khách quan” như của cải hay doanh thu. Tuy nhiên, trong hệ thống thuế
khoán, như được áp dụng tại hầu hết các thuộc địa trước đây của Pháp chẳng hạn, việc
xác định nghĩa vụ thuế sau cùng được thương lượng giữa người nộp thuế và nhân viên
thuế. Ngược lại, trong phương pháp hợp lý, nhiệm vụ của nhân viên thuế – cũng giống
như người đánh giá thuế tài sản trong hệ thống thẩm định chung – chỉ đơn giản là ghi
nhận các sự kiện về doanh thu hay sự kiện bất kỳ nào đó. Sau đó, nghĩa vụ thuế sau cùng
được xác định trên cơ sở các chuẩn mực của ngành bởi một nhân viên hoàn toàn khác (có
thể được cho là có năng lực kỹ thuật hơn cũng như ít có liên quan cá nhân hơn), hay một
nhóm các nhân viên khác. Nói cách khác, phương pháp hợp lý là thuế trực thu tương
đương, với sự tách biệt giữa các chức năng phân loại và đánh giá, mà một số người (như
Carson, 1972) xem là cơ sở cho việc quản lý hải quan hiện đại. Dĩ nhiên, hệ thống vẫn có
thể bị lũng đoạn bởi những nhân viên tham nhũng và những người nộp thuế kiên quyết,
nhưng cơ hội của sự quản lý tồi rõ ràng đã giảm bớt.
Điểm thứ hai về hệ thống hợp lý là: thuế tính ra có thể được gọi là “thuế thu nhập”
chỉ là một vấn đề về sự thuận tiện pháp lý mà thôi. Quả thật là thu nhập xác định được
(ước lượng được) có thể được kết hợp với thu nhập từ những nguồn khác và phải chịu
thuế suất thuế thu nhập thông thường, nhưng tác động thực sự của khoản thuế hợp lý rõ
àng là dành cho những đối tượng mà thu nhập đã được ước lượng (Morag, 1957). Điều
này có cả khía cạnh xấu và khía cạnh tốt. Một mặt, những khoản thuế dựa trên sự thay thế
lao động hay số người lao động rõ ràng có thể có những ảnh hưởng không đáng mong đợi
– khuyến khích việc chồng thuế và không khuyến khích việc tuyển dụng chẳng hạn. Mặt
khác, vì người ta ước lượng thu nhập theo những yếu tố như vậy, và thuế suất được xác
định theo các chuẩn mực của ngành ứng với mức thu nhập đó, cho nên thuế suất biên đối
với sinh lợi trên mức bình quân là bằng không. Nói cách khác, những khoản thuế hợp lý,
cũng như thuế đất nông nghiệp mà từ lâu đã được một số người đề xướng (Gandhi, 1966),
phát huy áp lực đối với người nộp thuế khiến họ đạt thành quả hoạt động chí ít cũng phải
trên tiêu chuẩn bình quân, và mang lại một động cơ khiến họ hoạt động nhiều hơn nữa. Dĩ
nhiên, sự tương đương với một khoản thuế gộp có tính luỹ tiến về lý thuyết này cũng sẽ
gặp phải những vấn đề trên thực tế giống như thuế đất nông nghiệp (tìm đọc tài liệu của
Bird, 1974 và chương 35 sau đây). Tuy nhiên, như Shoup đã đề xuất trong chương 3 trên
đây, điều đáng chú ý là chúng ta sẽ xem thử sự bố trí quản lý được thôi thúc bởi một nhu
cầu cấp thiết sẽ giúp ta tiến gần đến cái mà có thể được xem là một hình thức thu thuế lý
tưởng đối với các quốc gia đang phát triển như thế nào.
R. M. Bird & O. Oldman
2
Biên dịch: Kim Chi
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Ful
ight
Tài chính công
Thu thuế tại các nước đang phát triển Ch
Bài đọc
25 Vươn tới những người khó thu thuế
ĐÁNH THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NHỮNG NHÓM NGƯỜI KHÓ THU THUẾ
Richard A. Musgrave
Các nhà quản lý thuế trên khắp thế giới nhận thấy khó mà đánh thuế các doanh
nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, những người hành nghề chuyên môn, và các chủ trang trại.
Nhu cầu xử lý với một số đông những người nộp thuế cá nhân dẫn đến chi phí quản lý
cao, mà cuối cùng có thể lớn hơn số tiền thực tế thu được. Hơn nữa, việc quản lý khó
khăn vì phần đông những người nộp thuế này, đặc biệt là trại chủ và các doanh nghiệp
nhỏ, cảm thấy thật phiền toái khi duy trì sổ sách kế toán. Ngay cả nếu có sổ sách kế toán,
các viên chức thuế cũng không có bằng chứng để đánh giá tính chính xác của sổ sách.
Đứng trước những vấn đề này và với nguồn lực hạn chế, các nhà quản lý thuế có
xu hướng bỏ qua nhóm người khó thu thuế này và cảm thấy có lợi hơn khi bỏ công sức
vào một số lượng ít hơn những người nộp thuế nhiều. Cho dù thái độ này có thể lý giải
được trên thực tế, nhưng tính công bằng và số thu ngân sách tiềm năng đòi hỏi phải có
những nỗ lực nghiêm ngặt để thu thuế những người này.
Chúng tôi đề nghị rằng tất cả những người nộp thuế nên được chia thành những
nhóm sau đây:
1.
Những người nộp thuế rất nhỏ có thể được miễn thuế.
2.
Những người nộp thuế nhỏ, nên chịu một khoản thuế hợp lý thay cho toàn bộ thuế
thu nhập khác và thuế doanh thu.
3.
Tất cả những người nộp thuế khác nên phụ thuộc vào hệ thống kê khai thuế thu
nhập thông thường. Tuy nhiên, trong chủng loại này, nên phân biệt giữa:
a.
Nhóm những người khó thu thuế; đối với họ, chúng tôi đề xuất một hệ
thống xem xét dựa vào thu nhập ước lượng; và
.
Tất cả những người khác, những người này sẽ được yêu cầu lập tờ khai
thuế phù hợp dựa vào việc ghi chép sổ sách và hồ sơ đầy đủ.
Phương pháp hợp lý (cho nhóm 2 trên đây) là phương pháp đơn giản nhất và do đó
nên được áp dụng cho một số đông những người nộp thuế nhỏ. Phương pháp này chia số
người nộp thuế nhỏ thành nhiều phân nhóm khác nhau rồi qui một khoản thu nhập cho
từng phân nhóm này, và thu nhập được qui cho một phân nhóm nhất định sẽ được áp
dụng cho toàn bộ thành viên của phân nhóm đó. Thu nhập ấn định này được qui ra ở mức
độ dè dặt sao cho khi xét bình quân, thu nhập ấn định sẽ thấp hơn thu nhập thực tế.i Tính
đơn giản của hệ thống này là nhằm hạn chế đến mức tối thiểu chi phí quản lý, đồng thời
mang đến một số thu thuế tối thiểu hợp lý. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng là chuyển nhóm
người nộp thuế này vào hệ thống thu nhập ấn định và điều hoà hệ thống thuế thu nhập.
Trong phương pháp ước lượng, những người nộp thuế (trong nhóm 3 trên đây)
được yêu cầu phải nộp tờ khai thuế và kê khai thu nhập của mình. Nếu khi xem xét tờ
khai thuế và việc thanh toán thuế của người nộp thuế mà nhân viên thuế nhận thấy người
nộp thuế kê khai thu nhập thấp hơn mức ước lượng, thì thuế được áp đặt trên cơ sở thu
nhập ước lượng. Một lần nữa, người nộp thuế cũng được chia thành các phân nhóm,
nhưng không phải toàn bộ những người nộp thuế trong một phân nhóm đều phải nộp cùng
R. M. Bird & O. Oldman
3
Biên dịch: Kim Chi

Nguồn: thuvienmienphi

 

Bạn phải gởi bình luận/ đánh giá để thấy được link tải

Nếu bạn chưa đăng nhập xin hãy chọn ĐĂNG KÝ hoặc ĐĂNG NHẬP
 
 

BÌNH LUẬN


Nội dung bậy bạ, spam tài khoản sẽ bị khóa vĩnh viễn, IP sẽ bị khóa.
Đánh giá(nếu muốn)
 BÌNH LUẬN

ĐÁNH GIÁ


ĐIỂM TRUNG BÌNH

0
0 Đánh giá
Tài liệu rất tốt (0)
Tài liệu tốt (0)
Tài liệu rất hay (0)
Tài liệu hay (0)
Bình thường (0)
Thành viên
Nội dung đánh giá

 
LINK DOWNLOAD

TIEP-CAN-NHUNG-DoI-TUoNG-KHo-THU-THUE.pdf[0.27 M]

File đã kiểm duyệt
     Báo vi phạm bản quyền
Pass giải nén (Nếu có):
thuvienmienphi.com
DOWNLOAD
(Miễn phí)

Tài liệu tương tự