Đề cương môn Triết học

cac mon dai cuong,triet hoc mac lenin
  Đánh giá    Viết đánh giá
 21      278      0
Phí: Tải Miễn phí
Mã tài liệu
q56ntq
Danh mục
cac mon dai cuong,triet hoc mac lenin
Thể loại
Ngày đăng
18/1/2015
Loại file
pdf
Số trang
0
Dung lượng
4.67 M
Lần xem
278
Lần tải
21
  DOWNLOAD
File đã kiểm duyệt an toàn

HƯỚNG DẪN DOWNLOAD TÀI LIỆU

Bước 1:Tại trang tài liệu thuvienmienphi bạn muốn tải, click vào nút Download màu xanh lá cây ở phía trên.
Bước 2: Tại liên kết tải về, bạn chọn liên kết để tải File về máy tính. Tại đây sẽ có lựa chọn tải File được lưu trên thuvienmienphi
Bước 3: Một thông báo xuất hiện ở phía cuối trình duyệt, hỏi bạn muốn lưu . - Nếu click vào Save, file sẽ được lưu về máy (Quá trình tải file nhanh hay chậm phụ thuộc vào đường truyền internet, dung lượng file bạn muốn tải)
Có nhiều phần mềm hỗ trợ việc download file về máy tính với tốc độ tải file nhanh như: Internet Download Manager (IDM), Free Download Manager, ... Tùy vào sở thích của từng người mà người dùng chọn lựa phần mềm hỗ trợ download cho máy tính của mình  

NỘI DUNG TÀI LIỆU

Đề cương môn Triết học

 

Chỉ xem 5 trang đầu, hãy download Miễn Phí về để xem toàn bộ

Trong thời kỳ sơ khai của triết học, cùng với cuộc đấu tranh giữa quan điểm duy vật và duy tâm về bản thể luận, còn có cuộc đấu tranh giữa quan điểm biện chứng với quan điểm siêu hình về bản tính thế giới. 1. Hêraclít (540 - 475 TCN) coi bản nguyên của thế giới là lửa và khẳng định bản tính thế giới là "mọi thứ đều trôi qua". Tính đặc thù của tư tưởng này chính là ông thừa nhận sự thống nhất mâu thuẩn của vận động và đứng im, sinh thành và hiện hữu. ở Hêraclít vận động và đứng im là một sự thống nhất của các mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hoà, chúng không tồn tại thiếu nhau và thể hiện ra thông qua nhau. Ông vừa thừa nhận dòng sông luôn chảy. mặt triết họcời thường xuyên và liên tục biến đổi, vừa thừa nhận không có cái gì ổn định và bất biến hơn là dòng sông luôn chảy và mặt trời thường xuyên chiếu sáng. Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im và tính xác định của dòng sông không loại trừ sự vận động (chảy) của nó. Hêraclít nói rõ hơn "khi biến đổi, nó đứng im" (nghỉ ngơi). Từ đó ta suy ra rằng chính Hêraclít là người nói về cái hài hoà trong đấu tranh, thống nhất trong phân đôi, bất biến trong biến đổi, đồng nhất trong khác biệt, vĩnh cửu trong nhất thời. Khái niệm triết học co bản của tư tưởng về bản tính thế giới của Hêraclít là Logos. Thuật ngữ này làm nên nội dung cốt lõi của phép biện chứng Hêraclít. Theo ông , trước hết Logos là sự thống nhất của mọi cái hiện hữu. Thống nhất ở đây có nghĩa là sự đồng nhất của cái đa dạng, là sự hài hoà giữa các mặt đối lập. Vốn là tư tưởng cơ bản trong phép biện chứng, ông thường sử dụng tư tưởng này với tính kiê đinh và nhất quán. Ông phê phán các tiền bối như Hêxiốt, Pitago, Xênôphan không hiểu sự thống nhất. ông cho rằng ngày và đêm, thiện và ác không phải là một, đó là điều ai cũng hiểu. Nhưng ngày và đêm, thiện và ác, cũng như mội đối lập tạo nên một chỉnh thể thống nhất thì là điều ít ai hiểu. Đương nhêi dễ hiểu rằng các kiểu đối lập trên là nối tiếp nhau, tạo ra tính chu kỳ và tính lặp lại nhất định. Nhưng người ta, theo Hêraclít không hiểu được rằng bản thân tính chu kỳ và tính lặp lại đó được quy định bởi sự thống nhất, sự hoà hợp, sự hài hoà giữa các mặt đối lập, tức bởi "logos" phổ biến. Nói tới sự thống nhất của các mặt đối lập, Hêraclít chỉ muốn nói rằng các mặt đối lập giả định với nhau nhưng và không thể có được nếu thiếu nhau chứ không phải là sự trùng hợp tuyệt đối: chẳng hạn không thể biết quý sức khoẻ nếu không biết đối lập của nó là bệnh. Hêraclít nói rằng "Bệnh tật làm cho sức khoẻ trở nên quý giá, ngọt ngào". Thứ hai là quan hệ giữa Logos chủ quan và logos khách quan, tức là khả năng thống nhất giữa chúng. Hêraclít đã giải quyết vấn đề một cách khẳng định. Ông cho rằng tư duy vốn có sở mọi người và Logos thế giới con người (củ quan) có khả năng phù hợp với Logos thế giới (khách quan), mặc dù điều đó không diễn ra thường xuyên và hoàn toàn không phải ở mọi người. Khả năng ấy suy ra rằng việc nhận thức Logos của thế giới bên ngoài là có thể đựơc. Con đường đạt tới khả năng ấy the Hêraclít là bằng sự nỗ lực của bản thân và quan hệ với Logos thế giới bên ngoài. Đóng góp cơ bản của Hêraclít trong lịch sử phép biện chứng là cách trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ông đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong ogos" chủ quan và chỉ ra sự thống nhất biện chứng của nhận thức và biện chứng của thế giới. Đối lập với biện chứng của Hêraclít là phép biện chứng "phủ định" của trường phái Êlê, với chủ trương vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong với hai đại biểu lớn là Páctêmít (khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ V TCN) và Dênôn (khoảng 490 - 430 TCN). Vấn đề lớn trong triết học Páctêmít là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy, vận động và đứng im. Cuộc tranh luận giữa Hêraclít với Páctêmít là cuộc tranh luận giữa một người xem sự vật trong vận động với một người xem sự vật trong trạng thái yên tĩnh. Tư tưởng triết học của Páctêmít thể hiện ở ba luận điểm: coi vận động, biến đổi là hư ảo, bác bỏ quan điểm không gian rỗng thuần tuý; coi tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như kết quả. Tư duy là tư duy chỉ khi nào có vật thể, và vật thể là vật thể hiện hữu chỉ khi nào ta tư duy được với tính cách nó có như một hiện thể đặc trưng coi thế giới không có sinh thành, xuất hiện và diệt vong. Dênôn đã cụ thể hoá và phát triển nguyên lý "vạn vật đồng nhất thể" và vạn vật bất biến bằng phương pháp trưng dẫn chứng lý và nghịch lý. Ông đã đặt ra quan hệ giữa vận động và đứng im, giữa liên tục và gián đoạn, giữa hữu hạn và vô hạn, song ông chưa có điều kiện để bàn tới tính biện chứng theo cách nhìn hiện đại về các mối quan hệ ấy. Mặt tích cực của nhà biện chứng theo nghĩa cũ này là các nghịch lý (aporia) của ông thực sự kích thích tư duy, khuyến khích tinh thần hoài nghi, tranh luận đi tới chân lý. Vào thời cực thịnh của triết học, tư tưởng biện chứng được thể hiện trong tư tưởng của Xôcrát (469 - 399 TCN). Ông trình bày quan điểm của mình chỉ bằng lời nói, dưới hình thức hội hoạ hay tranh luận, theo phương pháp đặc biệt, đặc trưng cho ông; đó là phương pháp Xocrát, phương pháp này có bốn bước. + Mỉa mai là thủ pháp phản biện bằng cách nêu hàng lạot câu hỏi có tính chất mỉa mai nhằm dồn người đối thoại vào thế mâu thuẫn, thừa nhận những khiếm khuyết trong lập luận của mình, từ đó thừa nhận chân lý. + Đỡ đẻ với nghĩa là người thầy, người dẫn dắt không bỏ mặc người đang đối thoại với mình (học trò chẳng hạn) ở tình trạng không lối thoát mà chủ động nêu ra những vấn đề mới, giúp họ đạt tới chân lý. Việc đó giống như bác sĩ giúp người mẹ sinh ra đứa con. + Quy nạp là quá trình đi phân tích những hành vi riêng lẻ đến khái quát để nắm bắt bản chất con người và đời sống xã hội. + Xác định Hay định nghĩa là bước cuối cùng của tiếp cận chân lý: gọi đúng tên sự vật, chỉ ra đúng bản chất của nó, xác định đúng những chuẩn mực hành vi đạo đức, tiến tới xây dựng một khoa học về cái thiện phổ quát, giúp con người sống hạnh phúc, hợp lý trí.

Nguồn: thuvienmienphi

 

Bạn phải gởi bình luận/ đánh giá để thấy được link tải

Nếu bạn chưa đăng nhập xin hãy chọn ĐĂNG KÝ hoặc ĐĂNG NHẬP
 
 

BÌNH LUẬN


Nội dung bậy bạ, spam tài khoản sẽ bị khóa vĩnh viễn, IP sẽ bị khóa.
Đánh giá(nếu muốn)
 BÌNH LUẬN

ĐÁNH GIÁ


ĐIỂM TRUNG BÌNH

0
0 Đánh giá
Tài liệu rất tốt (0)
Tài liệu tốt (0)
Tài liệu rất hay (0)
Tài liệu hay (0)
Bình thường (0)
Thành viên
Nội dung đánh giá

 
LINK DOWNLOAD

De-cuong-mon-Triet-hoc.pdf[4.67 M]

File đã kiểm duyệt
     Báo vi phạm bản quyền
Pass giải nén (Nếu có):
thuvienmienphi.com
DOWNLOAD
(Miễn phí)

Tài liệu tương tự