bởi admin lúc Fri, Apr 20 '18 12:40 PM | Lần xem 247 | Lần tải 0
VẠN
THIỆN
ĐỒNG
QUY
TẬP
THIỀN SƯ DIÊN THỌ
Chùa Vĩnh Minh
(904-975)
Thiền Sư Diên Thọ, tự là Xung Huyền, người đời Tống, con nhà họ Vương ở Tiền
Đường. Lúc thiếu thời, Ngài thích tụng kinh Pháp Hoa, cảm đến bầy dê quỳ mọp
nghe kinh.
Lớn lên, Xung Huyền được Văn Mục Vương tuyển dụng, cho làm quan trông nom
về thuế vụ. Nhiều lần Ngài lấy tiền công quỹ đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh.
Việc phát giác ra, bị pháp ty thẩm định, xử Ngài vào tội tử hình. Lúc sắp đem đi
chém, Văn Mục Vương cho người rình xem, nếu thấy Ngài nhan sắc thản nhiên,
không tỏ vẻ buồn rầu lo sợ thì phải đem về trình lại. Thấy Ngài trước sau vẫn an
nhiên điềm tĩnh, sứ giả trao sắc chỉ cho quan giám trảm, rồi dẫn về diện kiến vua.
Khi nhà vua hỏi duyên cớ Ngài đáp:
“Tôi dụng của công, thật đáng tội chết. Nhưng toàn số tiền đó tôi dùng để mua cứu
được muôn ức sanh mạng, thì dù thân này có chết cũng được vãng sanh về cõi Liên
Bang, thế nên tôi không lo sợ”.
Văn Mục Vương nghe qua cảm động, rơi lệ tha bổng. Ngài xin xuất gia, nhà vua
ằng lòng.
Năm ba mươi tuổi, Ngài nương theo Thiền sư Thúy Nham ở chùa Long Sách xuất
gia. Sau đó tham học với Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai, ban đầu tu tập
thiền định, tỏ ngộ tâm yếu, được Quốc sư ấn khả. Ngài từng tu Pháp Hoa Sám ở
chùa Quốc Thanh, trong lúc thiền quán thấy Bồ Tát Quán Thế Âm rưới nước cam
lồ vào miệng, từ đó được biện tài vô ngại.
Sau đó, Ngài ở núi Tuyết Đậu tại Minh Châu, pháp hội rất hưng thịnh, đồng thời
phục hưng chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu. Ngoài giờ giáo hóa, Đại sư thường ở bên
dòng thác ngồi tụng kinh, tọa thiền, trầm mặc. Đại sư mặc y phục thì thô sơ, dùng
thức ăn rất đạm bạc.
1
Năm Kiến Long thứ 2 (961) đời Tống, Trung Ý Vương thỉnh Ngài trụ trì chùa
Vĩnh Minh, giáo hóa đại chúng, cho nên người đời gọi là Đại sư Vĩnh Minh. Sư đề
xướng tinh thần viên dung tất cả pháp, lấy tâm làm tông, bốn chúng khâm phục. Ở
chùa Vĩnh Minh mười lăm năm, độ được 1,700 vị Tăng. Đại sư lập công khóa mỗi
ngày đêm hành trì 108 điều. Hai điều đặc biệt trong đó là: tụng một bộ kinh Pháp
Hoa, niệm mười muôn câu Phật hiệu.
Trọn đời Ngài tụng được một muôn ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa. Đại sư thường
truyền giới Bồ Tát, mua chim cá phóng sanh, thí thực cho quỷ thần, tất cả công đức
đều hồi hướng Tịnh độ.
Ngài có trước tác bộ Tông Cảnh Lục 100 quyển, dung hội chỉ thú dị đồng của ba
tông:
* Hoa Nghiêm.
* Pháp Hoa.
* Duy Thức.
Đối với sự phân chia tông chỉ giữa các tông phái đương thời, Ngài giữ thái độ điều
hòa.
Vua nước Cao Ly thấy được bộ sách này, bèn sai sứ thần sang bày tỏ lễ nghĩa của
người đệ tử, đồng thời phái ba mươi sáu vị Tăng trong nước đến Trung Hoa học
pháp với Ngài. Do đó, Thiền của tông Pháp Nhãn lại được thịnh hành ở Hải Đông.
Đại sư còn soạn thuật tập Vạn Thiện Đồng Quy. Giáo nghĩa trong đây viên dung
vô ngại, đồng quy về nhất tâm, bảo rằng:
“Tám vạn pháp môn đều đưa đến giải thoát, một niệm lành nhỏ cũng dẫn tới Chân
như”, lời lẽ chỉ dạy về Tịnh độ rất thiết yếu.
Ngoài ra Đại sư còn trước tác Thần Thê An Dưỡng Phú 1 quyển, Duy Tâm Quyết
1 quyển, Định Huệ Tương Tư Ca 1 quyển v.v…tất cả hơn 60 bộ.
Niên hiệu Khai bảo năm thứ 8 (975), ngày 26 tháng 2, vào buổi sáng sớm Đại sư
lên chánh điện đốt hương lễ Phật. Lễ xong, Ngài họp đại chúng lại dặn dò khuyên
ảo, rồi ngồi kiết già trên pháp tòa mà thị tịch, thọ 72 tuổi. Trung Ý Vương ban tôn
hiệu là “Thiền Sư Trí Giác”.
Đại sư là Tổ thứ ba của tông Pháp Nhãn, đồng thời cũng được tôn xưng là Tổ thứ
sáu của tông Tịnh độ.
(Theo Mấy Điệu Sen Thanh,
Tống Cao Tăng Truyện,
Phật Quang Đại Từ Điển).
2
LỜI TỰA
Bốn biển rộng lớn, nếu không do tích tụ các dòng thì không đầy; bước lên Thập địa
tôn quý, nếu không do tích lũy điều lành thì chẳng đủ. Thế nên sâu xa chẳng thể dò
là do dung nạp lâu dài, chỗ linh diệu không thể lường là nhờ sự ra công tu tập cần
mẫn mà đạt đến. Huống chi bậc Diệu Giác chỉ dạy, hàng Thông Huyền lập giáo
ảo rằng, dầu cho một việc lành nhỏ cũng có thể giúp ở nơi ba cõi mà vượt khỏi
trần lao.
Phải nên lúc thức khi ngủ thường an trụ nơi lẽ thật, nêu cao con đường giác ngộ.
Thế mới mong mài dũa dần dần trở thành thuần thục, luôn chuyên tâm nghiên tầm
tinh tấn tiến lên.
Song mà, vốn chẳng phải Thánh cũng chẳng phải phàm, chỉ do nơi mê và ngộ.
Muốn tiến sâu vào cõi Thánh cần phải nhanh chóng sửa đổi tâm phàm. Đâu thể chỉ
dùng một việc để hun đúc, cần phải luyện tập nhiều môn. Hoặc dùng ngôn giáo
uyển chuyển khéo léo, nêu lên đạo cao đẹp của Thiên Thai; hoặc thâm nhập Thiền
lý, truyền rộng tiếng tốt Tào Khê.
Không thể chấp Không bỏ Có, không nên trái với chân thật mà theo Không. Cần
phải giải thích chỗ quyền nghi trở về Thật tướng. Quyền và Thật đã rõ, chỉ còn
ỗng rang. Người thấu suốt ắt xoay chuyển sự vật làm sáng rõ tâm, đáng gọi là diệu
dụng. Kẻ mê muội xét theo danh, ngưng trệ nơi giáo pháp, đâu xứng để gọi là bậc
thông đạt?
Hoặc quyết tâm thông suốt kinh điển.
Hoặc giữ vững giới luật; hoặc chân thành kính lễ trước tượng Phật.
Hoặc kinh hành siêng năng trong tịnh thất.
Hoặc miệng tụng Tôn danh.
Hoặc tâm quán tưởng Lạc Bang.
Hoặc không trọng giàu sang cũng chẳng xem thường nghèo khó mà sống đời đơn
giản.
Hoặc bố thí rốt ráo, không thêm điều tốt chẳng bớt việc xấu.
Sự việc nếu bình đẳng, lợi ích cũng rộng lớn. Phàm người nương theo Giới luật,
Thiền định nên vun bồi phước đức to lớn, những việc in kinh, tạo tượng cần phải
cố gắng ra công. Chớ bảo rằng ta vốn đã là Hiền Thánh, tâm chính là Phật.
3
bởi admin lúc Fri, Apr 20 '18 12:40 PM

Đối cơ lập giáo, Thế Tôn tuyên thuyết tám vạn bốn ngàn pháp môn, khi đến hội Pháp Hoa liền gom ba về một. Nhất thừa chơn đạo là chủ ý tuyên bày, tuy hứa ba xe nhưng cuối cùng đều ban xe trâu trắng. Ôi ! Trí tuệ quang minh từ bi vô lượng, bình đẳng với muôn loài, nhưng mấy ai dễ chấp nhận điều này: “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”.

Nhánh lá um tùm phát sinh từ gốc; sông suối muôn ngàn đều chảy về biển cả bao la. Pháp môn vô lượng nhưng không ngoài mục đích duy nhất - trở về Bản tâm. Thấy rõ lý này, vạn hạnh đều là tư lương hoàn thành giác ngộ. Thiền sư Vĩnh Minh soạn thuật Vạn Thiện Đồng Quy Tập cũng không ngoài ý ấy.

Toàn bộ sách tuy lấy việc tuyên dương ý chỉ Thiền làm nòng cốt, nhưng chỗ nào cũng thấy được sự dung hợp tư tưởng các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ…Mỗi sắc mỗi hương đều là Trung đạo; một câu Hồng danh cũng có thể giúp người tỏ ngộ Tự Tánh Di Đà, chứng nhập Duy Tâm Tịnh Độ; lời kinh thoáng qua tai vẫn có khả năng đưa người đạt đến bờ kia. Thật là viên dung vô ngại!

Dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Viện Chủ Chùa Vạn Đức thượng Trí hạ Tịnh, sự chỉ dẫn của Thượng Tọa trụ trì Chùa Bửu Liên, sự tận tâm tận lực giúp đỡ của Thượng Tọa trụ trì Chùa Hoằng Pháp, Thượng Tọa trụ trì Chùa Thiên Hưng, Đại Đức Minh Quang, Đại Đức Pháp Đăng, Đại Đức Tâm Huệ, Phật tử Diệu Thiện, Tâm Hoa… biết bao tấm lòng hoằng pháp lợi sanh nên việc phiên dịch sớm được hoàn thành.

Do cảm nhận sâu sắc sự lợi ích rộng lớn của quyển sách này, bằng tâm nhiệt thành chúng tôi mạo muội gắng hết sức mình, nhưng sự hiểu biết còn nông cạn mà những giáo nghĩa trong đây trình bày lại sâu rộng khôn cùng, nên sẽ không sao tránh khỏi những điều sai lầm sơ sót. Kính mong các bậc Tôn Túc và pháp hữu mười phương niệm tình chỉ giáo, thành kính tri ân vô lượng!


Thích Minh Thành
Kính ghi
.pdf 787631.pdf
Kích thước: bytes
Lần tải: 0 lần
Download