bởi admin lúc Mon, Apr 16 '18 11:35 AM | Lần xem 812 | Lần tải 266
1




ĐINH VĂN QUẾ
CHÁNH TOÀ TÒA HÌNH SỰ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO





BÌNH LUẬN KHOA HỌC
BỘ LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM






(TẬP VIII)

CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
VÀ CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG

BÌNH LUẬN CHUYÊN SÂU
















NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LỜI GIỚI THIỆU

Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28-12-1989, ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997.
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh đang xuất bản bộ sách BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ, được thể hiện với nội dung Bình luận chuyên sâu. Hiện tại đã in 10 tập: 1 tập Phần chung và 8 tập Phần các tội phạm.
Tác giả của bộ sách là Thạc sĩ luật học Đinh Văn Quế, Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao. Tác giả đã nhiều năm công tác trong ngành, có nhiều đề tài nghiên cứu, tham gia giảng dạy, có nhiều tác phẩm về luật hình sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia xét xử nhiều vụ án hình sự.
Xin trân trọng giới thiệu tập 8 (Phần các tội phạm) của Bộ sách trên và mong nhận được sự đóng góp của bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


















PHẦN THỨ NHẤT
CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

MỞ ĐẦU

Quản lý hành chính là lĩnh vực rộng lớn và phức tạp nhất của quản lý Nhà nước đối với xã hội. So với các lĩnh vực khác, thì quản lý hành chính chiếm một tỷ lệ lớn trong toàn bộ quản lý Nhà nước đối với xã hội.
Các quy phạm về trật tự quản lý hành chính cũng rất đa dạng, có quy định do Chính phủ ban hành, có quy định do các Bộ các ngành ban hành, có quy định do chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ban hành, nhưng cũng có quy định chỉ do cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành ở địa phương ban hành, thậm chí một bản nội quy, quy chế của một cơ quan cũng được coi là quy phạm quản lý hành chính.
Các hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính cũng rất đa dạng, phức tạp và xảy ra thường xuyên hàng ngày, hàng giờ trên nhiều lĩnh vực, với tính chất và mức độ khác nhau, nhưng nhà làm luật chỉ quy định một số hành vi xâm phạm một số lĩnh vực trật tự quản lý hành chính là hành vi tội phạm.
Thực tiễn cho thấy, việc phân biệt các hành vi vi phạm các quy định về trật tự quản lý hành chính với hành vi phạm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong nhiều trường hợp không dễ dàng, có trường hợp hành vi xâm phạm các quy định trật tự quản lý hành chính lẽ ra phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng lại chỉ xử phạt hành chính, ngược lại có những hành vi chỉ đáng xử phạt hành chính thì lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, các quy định của Nhà nước về quản lý hành chính luôn thay đổi cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, có hành vi xâm phạm nay là hành vi phạm tội nhưng ngày mai không còn là hành vi phạm tội nữa vì do sự chuyển biến của tình hình hoặc Nhà nước không quy định hành vi đó là hành vi vi phạm nữa, ngược lại, có hành vi trước đây không bị coi là hành vi phạm tội nhưng nay lại bị coi là hành vi phạm tội.v.v...

Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính so với Bộ luật hình sự năm 1985 cũng có nhiều thay đổi, kể cả các tình tiết là yếu tố định tội cũng như các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt. Ngoài ra, Bộ luật hình sự năm 1999 còn quy định thêm tội mới, chuyển một số tội từ Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia về Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực, cũng chưa có giải thích hướng dẫn nào về việc áp dụng Chương XX về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Do đó thực tiễn xét xử không ít trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng trong việc xử lý các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính.

Với ý nghĩa trên, qua nghiên cứu và qua thực tiễn xét xử, chúng tôi sẽ phân tích các dấu hiệu của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định tại Chương XIX Bộ luật hình sự năm 1999, giúp bạn đọc, nhất là các cán bộ làm công tác pháp lý tham khảo.

I - MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính được quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự năm 1999 gồm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính được quy định tại Mục C, Chương VIII và một số tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Mục B, Chương I phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985. Ngoài ra do tình hình kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi nên nhà làm luật quy định thêm hai tội phạm mới mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định, đó là: “tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân nhập ngũ” (Điều 260) và “tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” ( Điều 273)

So với Mục C, Chương VIII và Mục B Chương I phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm sửa đổi, bổ sung sau:

- Mục C, Chương VIII, phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985 có 14 Điều ( từ Điều 205 đến Điều 217) quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, nay Chương XX Bộ luật hình sự năm 1999 có 20 Điều ( từ Điều 257 đến Điều 276) quy định các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính với 20 tội danh tương ứng. Trong đó có 14 tội đã được quy định tại Mục C, Chương VIII Phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985, 4 tội quy định tại Mục B Chương I phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985 và bổ sung hai tội mới là tội “không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” (Điều 260) và tội “vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273).

- Tên tội danh trong các điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 cũng được sửa đổi, bổ sung; một số tội danh quy định thêm hành vi phạm tội mới hoặc sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước. Ví dụ: Điều 215 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: “tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, ấn phẩm khác”, thì Điều 271 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “tội vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo, đĩa, âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác” ; một số tội danh được tách từ một hoặc một số tình tiết là yếu tố định khung hình phạt. Ví dụ: tình tiết “làm giả con dấu, giấy tiêu đề hoặc giấy tờ khác của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc sử dụng con dấu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 211 Bộ luật hình sự năm 1985 nay được quy định thành tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Các tình tiết là yếu tố định tội ở một số tội danh cũng được sửa đổi bổ sung theo hướng phi hình sự hoá một số hành vi hoặc quy định các tình tiết làm ranh giới để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi chưa tới mức là tội phạm. Ví dụ: Người có hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép trước đây không cần đã bị xử lý hành chính về hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép cũng đã cấu thành tội phạm, nay nếu chưa bị xử lý hành chính thì chưa cấu thành tội phạm.

- Hầu hết các tội phạm đều được bổ sung nhiều tình tiết là yếu tố định khung hình phạt.

- Hình phạt bổ sung đối với từng tội phạm, nếu thấy là cần thiết thì được quy định ngay trong cùng một điều luật.


II - CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ

1. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Điều 257. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.

Định nghĩa: Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.

Tội chống người thi hành công vụ là tội phạm đã được quy định tại Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985. Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng cấu tạo thành hai khoản nhưng cả hai khoản đều bổ sung những tình tiết mới là yếu tố định tội hoặc yếu tố định khung hình phạt.

So với Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

Nếu khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109...”, thì khoản 1 Điều 257 không còn quy định tình tiết này nữa, vì quy định đó là không cần thiết.

Nếu khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: “người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện hành vi trái pháp luật” thì khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật” (thêm hành vi cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ).

Nếu khoản 2 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định một trường hợp phạm tội là “gây hậu quả nghiêm trọng”, thì khoản 2 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, ngoài trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, còn bổ sung thêm 4 trường hợp phạm tội, đó là: Có tổ chức; phạm tội nhiều lần; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; tái phạm nguy hiểm.

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần hội tụ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật là có thể là chủ thể của tội phạm này, tức là đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự.

Như vậy, người dưới 16 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chống người thi hành công vụ vì tội phạm này cả khoản 1 và khoản 2 của điều luật không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công.

Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công. Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tuỳ trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân. Ví dụ: Ông Vũ Văn K là Trưởng công an xã đã tổ chức bắt Nguyễn Văn T, Bùi Quốc H và Mai Đức Q tiêm chích ma tuý, nên Bùi Quốc B là cha của Bùi Quốc H đã đón đường đánh ông K gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 10%. Hành vi của B là hành vi phạm tội cố ý gây thương tích thuộc trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự ( vì lý do công vụ của nạn nhân).

Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ. Ví dụ: Toà án nhân dân huyện K kết án Đặng Quốc H về tội trộm cắp tài sản và buộc H phải bồi thường cho chị Hoàng Kim D 4.500.000 đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, Đặng Quốc H kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm mức bồi thường, Toà án nhân dân tỉnh B chưa xét xử phúc thẩm. Vì muốn thi hành ngay khoản tiền bồi thường thiệt hại cho chị họ mình, nên Hoàng Văn T là Chấp hành viên đã đến gia đình Đặng Quốc H, lấy danh nghĩa là Chấp hành viên yêu cầu H phải nộp ngay 4.500.000 đồng. Đặng Quốc H không đồng ý vì cho rằng mình đang kháng cáo bản án sơ thẩm và yêu cầu Hoàng Văn T ra khỏi nhà, dẫn đến xô xát. Do chưa xem xét một cách đầy đủ, lại cho rằng H là đối tượng hình sự, có nhiều tiền án tiền sự, nên Cơ quan điều tra công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Quốc H về tội chống người thi hành công vụ. Sau khi xem xét một cách toàn diện và đầy đủ, Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã không phê chuẩn và yêu cầu Cơ quan điều tra đình chỉ vụ án đối với Đặng Quốc H, vì hành vi của Hoàng Văn T không phải là hành vi thi hành công vụ.

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

a. Hành vi khách quan

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như: Dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ

Hành vi dùng vũ lực là hành vi (hành động) mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của người thi hành công vụ như: Đấm, đá, đẩy, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém... Nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm vào vào cơ thể người thi hành công vụ nhằm làm cho họ bị đau đớn mà không thực hiện được nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ có thể làm cho người thi hành công vụ bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ, nhưng chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỷ lệ thương tật). Nếu hành vi dùng vũ lực đã gây ra thương tích cho người thi hành công vụ, có tỷ lệ thương tật hoặc gây ra cho người thi hành công vụ bị chết, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo Điều 104 hoặc tội giết người theo Điều 93 Bộ luật hình sự với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt “để cản trở người thi hành công vụ” hoặc “giết người đang thi hành công vụ”.

Như vậy, hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về ba tội tuỳ thuộc vào hậu quả mà hành vi này gây ra cho người thi hành công vụ. Người có hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ khi chưa gây ra thương tích (có tỷ lệ thương tật) hoặc gây ra chết người. Đây cũng là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn xét xử còn ý kiến khác nhau. Rõ ràng người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ nhưng vì nạn nhân có tỷ lệ thương tật nên phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích. Trong khi đó khoản 1 Điều 104 và khoản 1 Điều 257 có khung hình phạt như nhau, lẽ ra trong trường hợp người phạm tội chống người thi hành công vụ mà gây thương tích cho nạn nhân phải bị phạt nặng hơn người chưa gây ra thương tích cho nạn nhân.

- Đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ

Hành vi đe doạ dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe doạ người thi hành công vụ nếu không ngừng việc thực hiện nhiệm vụ thì sẽ dùng vũ lực, có thể ngay tức khắc hoặc sau đó một thời gian. Ví dụ: Bùi Hoàng B bị cưỡng chế thi hành án, khi ông Nguyễn Văn Q là Chấp hành viên cùng với một số người trong đoàn cưỡng chế thi hành án đến nhà B để thực hiện nhiệm vụ cưỡng chế. Thấy vậy, B cầm một con dao phay đứng trước cửa tuyên bố: “đứa nào vào tao chém”. Thấy thái độ hung hăng của B, ông Q và đoàn cưỡng chế phải ra về.

Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ

Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ là ngoài hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ra, người phạm tội còn dùng những thủ đoạn khác không cho người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ, những thủ đoạn này có thể là hành động hoặc không hành động. Khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định hành vi này.

Việc nhà làm luật quy định thêm hành vi khách quan này cũng xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội không dùng vũ lực, cũng không đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ nhưng vẫn cản trở được việc thi hành công vụ của họ. Ví dụ: Để thực hiện lệnh cưỡng chế giải phóng mặt bằng mở đường quốc lộ số 5, Ban tổ chức giải phóng mặt bằng đã vận động, giải thích cho bà Nguyễn Thị T và gia đình, nhưng bà T và gia đình vẫn không chấp hành. Ban giải phóng mặt bằng phải áp dụng biện pháp cưỡng chế. Khi lực lượng làm nhiệm cưỡng chế đưa xe ủi tới, bà T cùng người nhà đã ra nằm trước đầu xe ủi không cho lực lượng làm nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ, nên họ đành phải cho xe ủi về, nhiều lần như vậy, nhưng vì Điều 205 không quy định hành vi khác cản trở người thi hành công vụ nên không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà T về tội chống người thi hành công vụ. Nay điều luật quy định hành vi dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ thì việc xử lý thuận lợi hơn. Tuy nhiên, quy định mới này là quy định không có lợi cho người phạm tội nên không áp dụng đối với hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới phát hiện xử lý.

Dùng thủ đoạn khác ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

Ép buộc người thi hành công thực hiện hành vi trái pháp luật là bằng nhiều cách khác nhau tác động đến người thi hành công vụ để buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật. Nếu chỉ căn cứ vào tính chất của hành vi ép buộc thì không có liên quan gì đến tội danh “chống người thi hành công vụ”, bởi vì việc ép buộc người khác thực hiện một hành vi trái pháp luật không phải là chống lại họ mà buộc họ phải làm một việc sai trái ngoài ý muốn của họ. Hành vi này, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc ép buộc người thi hành công vụ. Ngay trong lĩnh vực này, cũng chỉ giới hạn ở hành vi ép buộc người đang thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, do tính chất của việc bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ công và do hành vi ép buộc mà làm cho nhiệm vụ không được hoàn thành, nên coi hành vi này đối với người thi hành công vụ cũng là hành vi chống người thi hành công vụ.

Về phía người thi hành công vụ phải là người đang thi hành công vụ và do bị ép buộc mà phải thực hiện hành vi trái pháp luật thì người có hành vi ép buộc mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ. Tuỳ theo tính chất mức độ của hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đã thực hiện, mà có thể họ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng với hành vi trái pháp luật mà họ thực hiện. Nếu họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ phạm tội thuộc trường hợp phạm tội vì bị người khác đe doạ cưỡng bức.

b. Hậu quả

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan nêu trên là tội phạm đã hoàn thành. Nhiệm vụ có thể vẫn được thực hiện, mặc dù người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

Tuy nhiên, về đường lối xử lý thực tiễn xét xử cho thấy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp do có hành vi chống người thi hành công vụ mà dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ bị gián đoạn hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Về lý luận cũng như thực tiễn xét xử đối với hành vi chống người thi hành công vụ, nếu gây thương tích cho người người thi hành công vụ có tỷ lệ thương tật từ 1% trở lên, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ. Thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp rõ ràng hành vi của người phạm tội là hành vi chống người thi hành công vụ nhưng Toà án lại kết án họ về tội cố ý gây thương tích làm cho nhiều người hiểu lầm rằng Toà án kết án người phạm tội không đúng với hành vi khách quan và ý thức chủ quan của họ; có trường hợp nhiều người cùng chống người thi hành công vụ nhưng người này thì bị kết án về tội chống người thi hành công vụ, còn người khác lại bị kết án về tội cố ý gây thương tích. Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề lập pháp. Nếu nhà làm luật không quy định tình tiết “để cản trở người thi hành công vụ” đối với hành vi cố ý gây thương tích tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự thì vấn đề đơn giản hơn. Nếu cần xử lý nghiêm người có hành vi chống người thi hành công vụ và còn gây thương tích cho người thi hành công vụ thì nên quy định tình tiết “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người thi hành công vụ” là tình tiết định khung hình phạt đối với tội chống người thi hành công vụ sẽ hợp lý hơn. Cũng có ý kiến cho rằng, nếu người phạm tội có hành vi chống người thi hành công vụ và còn gây thương tích cho người thi hành công vụ có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác” và tội “chống người thi hành công vụ”, nếu người phạm tội chỉ cố ý gây thương tích cho người thi hành công vụ có tỷ lệ thương tật dưới 11% thì họ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chống người thi hành công vụ”. Hy vọng khi có dịp sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự nhà làm luật sẽ quan tâm đến các ý kiến này.

c. Các dấu hiệu khách quan khác

Đối với tội chống người thi hành công vụ các dấu hiệu khách quan khác không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, những dấu hiệu này có ý nghĩa bổ sung cho các dấu hiệu thuộc hành vi khách quan hoặc các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt như: Nhiệm vụ cụ thể của người thi hành công vụ; nghĩa vụ phải thi hành của người có hành vi chống người thi hành công vụ; các quy định của pháp luật về trách nhiệm của người thi hành công vụ.v.v...

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội chống người thi hành công vụ thực hiện hành vi do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi chống người thi hành công vụ, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.[1]

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

1. Phạm tội chống người thi hành công vụ không có các tình tiết định khung hình phạt

Đây là trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự, là cấu thành cơ bản của tội chống người thi hành công vụ, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.


[1] Xem Đinh Văn Quế “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 – Phần chung” NXB Tp Hồ Chí Minh năm 2000. tr.70 (cô ý phạm tội )

bởi admin lúc Mon, Apr 16 '18 11:35 AM

Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28-12-1989, ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997.


Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh đang xuất bản bộ sách BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ, được thể hiện với nội dung Bình luận chuyên sâu. Hiện tại đã in 10 tập: 1 tập Phần chung và 8 tập Phần các tội phạm.


Tác giả của bộ sách là Thạc sĩ luật học Đinh Văn Quế, Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao. Tác giả đã nhiều năm công tác trong ngành, có nhiều đề tài nghiên cứu, tham gia giảng dạy, có nhiều tác phẩm về luật hình sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia xét xử nhiều vụ án hình sự.

.doc 769094.doc
Kích thước: 1.19 mb
Lần tải: 1 lần
Download