bởi admin lúc Mon, Apr 16 '18 11:40 AM | Lần xem 579 | Lần tải 59
Trường Đại học Đông Á Khoa KHXH&NV































LỜI NÓI ĐẦU

Luật hành chính là môn học cơ sở ngành của ngành quản trị văn phòng. Môn học này cung cấp cho người học về những kiến thức cơ bản về hoạt động quản lý hành chính nhà nước và những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và viên chức.
Cùng với công cuộc cải cách hành chính hiện nay trong nhiều lĩnh vực và yêu cầu của quá trình dân chủ ở cơ sở là những đòi hỏi khách quan để tăng quyền chủ động quản lý và điều hành của bộ máy hành pháp, nhất là ở các cấp địa phương, nơi tập trung quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân và người lao động;
Trên cơ sở giáo trình Luật hành chính Trường Đại học Luật Hà Nội và rất nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo, giảng viên đã biên soạn bài giảng này nhưng đã có sự cập nhật những nội dung cũng như những văn bản mới nhất để đáp ứng cho việc giảng dạy, học tập hiện nay.
Mặc dù có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các sinh viên để bài giảng ngày càng hoàn thiện hơn.

Đà Nẵng, ngày 25 tháng 3 năm 2013
Tác giả







Chương 1
LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM -
NGÀNH LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1.1.KHÁI NIỆM
1.1.1.Khái niệm quản lý
Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định từ trước.
Dưới góc độ pháp lý, Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”.
Như vậy, ở đâu có sự lao động chung của nhiều người thì ở đó cần có sự quản lý, trong đó sự liên kết các hoạt động của mỗi cá nhân con người là rất cần thiết. Hoạt động liên kết chính là nội dung của công tác tổ chức. Tổ chức là sự phân công, phân định rõ ràng chức trách của từng người trong tập thể, là sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ của các cá nhân trong tập thể. Do đó, tổ chức là yếu tố quyết định mang lại hiệu quả cho quản lý.
Để điều khiển, phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tập thể con người, quản lý cần có phương tiện để buộc con người phải hành động theo những nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những khuôn mẫu, mệnh lệnh nhất định. Phương tiện đó là uy tín hoặc quyền uy, quyền lực.
Tóm lại, quản lý nảy sinh bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu, nếu ở đó có hoạt động chung của nhiều người. Vì vậy, quản lý tồn tại từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ đến xã hội có nhà nước và cả khi xã hội không còn giai cấp và nhà nước nữa.
- Chủ thể quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá nhân hay tổ chức này là những đại diện có quyền uy.
- Khách thể quản lý là trật tự quản lý nhất định mà các bên tham gia quan hệ quản lý cụ thể đều hướng tới. Trật tự này được điều chỉnh bởi nhiều quy phạm khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật...
1.1.2.Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Thông qua pháp luật, nhà nước có thể trao quyền lực của mình cho các cá nhân hay tổ chức xã hội để các chủ thể đó thay mặt nhà nước tiền hành hoạt động quản lý nhà nước đối với toàn xã hội.
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là hoạt động chỉ đạo thực hiện pháp luật gọi là quản lý hành chính nhà nước hay còn gọi là quản lý công hoặc hành chính công.
Quản lý hành chính nhà nước là hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính - chính trị ở nước ta. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước.
- Chấp hành là làm đúng những yêu cầu của pháp luật, là hoạt động đưa pháp luật vào thực tiễn quản lý nhà nước.
- Điều hành là việc chỉ đạo đối tượng thuộc quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo pháp luật, là việc các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể quản lý hành chính khác phải tiến hành hoạt động liên tục, thường xuyên nhằm trực tiếp và tổ chức chỉ đạo thực hiện pháp luật đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đạt mục đích là năng suất, chắt lương, hiệu quả.
Trong quá trình điều hành, các chủ thể quản lý nhà nước có quyền nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước ban hành các văn bản quản lý để đặt ra quy phạm pháp luật hay mệnh lệnh pháp luật cụ thể có tính bắt buộc đối với các đối tượng quản lý có liên quan. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của các đối tượng quản lý đó.
Chấp hành và điều hành có mối liên hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra quản lý hành chính nhà nước luôn mang tính chủ động, sáng tạo.
- Chủ thể quản lý nhà nước là cá nhân hay tổ chức mang quyền lực nhà nước, bao gồm nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân được nhà nước uỷ quyền để nhân danh nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước. Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là cá nhân hay tổ chức có quyền năng thực hiện quyền lực nhà nước, bao gồm: cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân thuộc các cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội hoặc cá nhân khác được nhà nước trao quyền quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể.
- Khách thể của quản lý nhà nước là trật tự quản lý nhà nước. Khách thể quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành chính nhà nước tức là trật tự quản lý trong lĩnh vực chấp hành điều hành.
1.2. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH
1.2.1. Đối tượng điều chỉnh
Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Những quan hệ này được gọi là quan hệ quản lý hành chính nhà nước hay quan hệ chấp hành - điều hành.
Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính có thể được chia thành 3 nhóm quan hệ quản lý:
Nhóm 1 là các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm:
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới theo hệ thống dọc. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND TP. Đà Nẵng với UBND Quận Hải Châu).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND Thành phố với Sở Tư pháp TP.Đà Nẵng).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới trực tiếp. (Ví dụ: Quan hệ giữa Sở giao thông TP. Đà Nẵng với UBND Quận Thanh Khê).
- Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp với nhau, cơ quan này có quyền hạn nhất định đối với cơ quan kia trong việc thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp luật. Song giữa các cơ quan này không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức. (Ví dụ: Quan hệ giữa Sở tài chính với Sở tài nguyên và môi trường trong việc quản lý thu chi ngân sách).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước địa phương với các đơn vị trực thuộc trung ương đóng tại địa phương đó. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND Quận Liên Chiểu với Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng).
- Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị cơ sở trực thuộc. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND tỉnh Quảng Nam với Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. (Ví dụ: Giữa UBND huyện Duy Xuyên với Hợp tác xã dệt may Duy Trinh).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội. (Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân, người nước ngoài. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND phường Bắc Mỹ An với công dân A trong việc xử phạt vi phạm hành chính do A có hành vi gây rối trật tự công cộng).
Nhóm 2 là nhóm quan hệ quản lý hình thành trong quá trình cơ quan nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan. (Ví dụ: Quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan với các cán bộ, công chức trong cơ quan đó).
Nhóm 3 là nhóm là các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể. (Ví dụ: Thẩm phán chủ toạ phiên toà được xử phạt hành chính đối với công dân có hành vi gây rối trật tự phiên toà).
1.2.2.Phương pháp điều chỉnh
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn phương, được hình thành từ quan hệ quyền lực phục tùng giữa một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc thi hành với một bên có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó. Do đó, trong quan hệ quản lý hành chính nhà nước có sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ này.
1.3. QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
1.3.1.Quy phạm pháp luật hành chính
Quy phạm pháp luật hành chính là những quy tắc xử sự chung do cơ quan hay cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với những đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Quy phạm pháp luật hành chính do nhiều chủ thể ban hành, do nhiều cấp và ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nên có số lượng rất lớn và hiệu lực pháp luật của chúng rất khác nhau.
Các quy phạm pháp luật hành chính được thực hiện bằng nhiều cách, nhưng tập trung nhất và phổ biến nhất là hai hình thức như chấp hành và áp dụng.
- Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính. Các chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính thực hiện hành vi chấp hành quy phạm pháp luật hành chính trong các trường hợp sau đây:
+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính quy định.
+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính buộc phải thực hiện.
+ Khi không thực hiện những hành vi mà pháp luật của nhà nước nghiêm cấm.
- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là việc các chủ thể quản lý hành chính nhà nước căn cứ vào pháp luật hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước. Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một hay nhiều quan hệ pháp luật hành chính nhất định.Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung, mục đích của quy phạm pháp luật hành chính.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện bởi cơ quan hay cán bộ nhà nước có thẩm quyền.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được tiến hành nhanh chóng trong thời hạn pháp luật quy định và phải trả lời công khai, chính thức kết quả giải quyết cho các đối tượng có liên quan.
+ Kết quả áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thể hiện bằng văn bản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
+ Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được bảo đảm thực hiện trên thực tế.
1.3.2. Quan hệ pháp luật hành chính
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh giữa những chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Quan hệ pháp luật hành chính có những đặc trưng, đó là:
- Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính luôn gắn với hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước.
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp của bất kỳ bên nào, sự thoả thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc.
- Trong quan hệ pháp luật hành chính, một chủ thể được sử dụng quyền lực nhà nước. Chủ thể này là chủ thể bắt buộc, nếu thiếu chủ thể này thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính.
- Phần lớn tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính được giải quyết theo thủ tục hành chính và chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước hay cán bộ nhà nước có thẩm quyền trong những cơ quan này.
- Trong quan hệ pháp luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước nhà nước chứ không phải trước bên kia
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính, có năng lực chủ thể, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính. Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính gồm: Cơ quan nhà nước; cán bộ, công chức nhà nước; tổ chức xã hội; đơn vị kinh tế; công dân Việt Nam; người nước ngoài, người không có quốc tịch.
Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là trật tự quản lý hành chính nhà nước. Trật tự này được nhà nước quy định trong pháp luật và được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh.
Quan hệ pháp luật hành chính phát sinh, thay đổi hay chấm dứt khi có đủ hai cơ sở là quy phạm pháp luật hành chính và sự kiện pháp lý hành chính.
Quy phạm pháp luật hành chính nêu ra các trường hợp, hoàn cảnh giả định và buộc các đối tượng có liên quan phải thực hiện những hành vi nhất định.
Sự kiện pháp lý hành chính là sự kiện thực tế mà khi xảy ra, pháp luật hành chính gắn nó với việc phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của các chủ thể.
1.4.NGUỒN CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH
Hệ thống nguồn của luật hành chính bao gồm:
- Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp;
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
- Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính: Nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Tủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định, chỉ thị của uỷ ban nhân dân và chủ tịch uỷ ban nhân dân các cấp.
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
- Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch hoặc liên cơ quan: Nghị quyết liên tịch, thông tư liên bộ, liên ngành...

CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân biệt quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước
2. Luật hành chính điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội nào? Theo em, nhóm quan hệ xã hội nào là cơ bản nhất?
3. Vì sao luật hành chính có phương pháp điều chỉnh là phương pháp quyền uy?
4. Thế nào là quy phạm pháp luật hành chính? Quan hệ pháp luật hành chính?


BÀI TẬP NHÓM
Phân tích: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phân nhiệm, phân nhiệm, phối hợp, chế ước giữa 3 quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp”









Chương 2
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2.1. KHÁI NIỆM
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Nguyên tắc là những điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Nguyên tắc thường được đề cập ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Khoa học tự nhiện coi nguyên tắc là kết quả của khoa học, là cơ sở để nghiên cứu trong các nguyên lý, định lý, định luật. Khoa học xã hội coi nguyên tắc là những điều cơ bản nhất, có tính hệ thống bền vững, làm khuôn mẫu cho hành vi xử sự của con người.
Khoa học pháp lý chủ yếu nghiên cứu các nguyên tắc pháp lý và nhấn mạnh nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo bắt nguồn từ bản chất của chế độ, được quy định trong pháp luật, tạo thành cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong các khâu của quá trình quản lý nhà nước.
Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là những nguyên tắc pháp lý bao giờ cũng gắn liền với bản chất chính trị của chế độ xã hội, là một dạng của nguyên tắc pháp lý, là tư tưởng hành động, tạo cơ sở cho việc tổ chức và hành động cho các cơ quan, viên chức và công chức nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ mà pháp luật đã quy định cho họ.
Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước đều xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê nin, coi nhà nước là công cụ chủ yếu để nhân dân lao động quản lý đất nước, xây dựng chế độ xã hội mới. chính vì vậy, chúng không tồn tại độc lập mà các nguyên tắc hợp thành một thể thống nhất, liên hệ chặt chẽ với nhau.
2.2. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
2.2.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước
Sự lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong cơ chế quản lý toàn xã hội. Đó là cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý.
Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là một nhân tố quan trọng khẳng định vị trí, vai trò của nó trong xã hội. Đảng là người lãnh đạo để đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Vì vậy, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định cụ thể: “Đảng Công sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.
- Đảng đưa ra các quan điểm, nguyên tắc và phương hướng chỉ đạo việc tổ chức bộ máy nhà nước; xem xét góp ý kiến về các đề xuất của nhà nước để nhà nước quyết định.
Sự lãnh đạo của đảng đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước là tất yếu, thông qua uy tín của tổ chức đảng và các đảng viên nhưng không thoát ly những quy định của Hiến pháp và pháp luật. Chính vì vậy, mà Hiến pháp đã quy định: “...các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật”. Điều đó cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là người xây dựng đường lối phát triển xã hội nhưng họ đồng thời là người tiên phong thực hiện pháp luật trong việc xây dựng pháp luật.
- Nhằm thực hiện tốt đường lối của Đảng và đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống, công tác tổ chức cán bộ phải được xây dựng và củng cố thường xuyên. Công tác này có tính quyết định đối với hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước vì những đảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực điều hành được Đảng bồi dưỡng, đào tạo để gánh vác những nhiệm vụ trọng trách trong bộ máy hành chính. Vì thế, Điều 4 Pháp lệnh cán bộ công chức đã khẳng định: “Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Trong công tác cán bộ, cấp uỷ đảng đề ra tiêu chuẩn, chính sách, nhà nước thể chế hoá thành luật, quy chế. Tuy nhiên, Đảng không bao biện và làm thay chính quyền. Vấn đề bầu hay bổ nhiệm các chức vụ nhà nước được thực hiện bằng pháp luật và bởi các cơ quan nhà nước theo thủ tục do pháp luật quy định. Nói cách khác, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ là khâu quan trọng không chỉ là nhiệm vụ của Đảng mà còn là nhiệm vụ của các cấp chính quyền, của các cơ quan tổ chức. Tất nhiên việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn đối với từng chức vụ, tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch.
- Một trong những hình thức lãnh đạo rất cơ bản của Đảng là công tác kiểm tra. Thông qua hình thức này, Đảng đánh giá được hiệu quả và tính thực tế của đường lối của mình. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, Đảng biết được hoạt động thể chế hoá đường lối của Đảng thành pháp luật của các cấp, ngành trong cả nước. Hoạt động kiểm tra của Đảng không đồng nhất với hoạt động kiểm tra của chính quyền. Hoạt động kiểm tra của Đảng là phương pháp lãnh đạo chứ không phải là biện pháp quản lý. Công tác kiểm tra của Đảng được tiến hành chủ yếu thông qua các đảng viên và các tổ chức đảng, đồng thời tổ chức vận động quần chúnh giám sát, kiểm tra.
2.2.2. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo và quản lý hành chính nhà nước
Nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua các hình thức sau:
- Tham gia vào hoạt động bộ máy nhà nước, sử dụng bộ máy nhà nước làm công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhà nước.
Điều 6 Hiến pháp 1992 khẳng đinh: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”
Nhân dân lao động tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách là đại biểu của cơ quan đó để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương và giám sát hoạt động chấp hành pháp luật của công chức và các cơ quan đó.
Họ cũng có thể tham gia gián tiếp vào cơ quan nhà nước nói chung thông qua việc bầu cử hoặc với tư cách là cán bộ nhà nước ở những cơ quan như cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát hoặc cơ quan hành chính nhà nước.
- Sự tham gia của quần chúng nhân dân lao động vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Ở đây, nhân dân lao động đồng thời là các thành viên của các tổ chức này. Vì thế, thông qua các tổ chức xã hội, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình để “tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân...giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước” (Điều 9 Hiến pháp 1992)
- Nhân dân lao động tham gia vào các tổ chức tự quản ở cơ sở như tổ hoà giải, tổ dân phòng...Thông qua những hoạt động tự quản này, đặt biệt qua những phong trào thi đua sản xuất, nhân dân lao động góp phần bảo vệ của công, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.
- Nhân dân lao động trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân như quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền lao động... Việc thực hiện trực tiếp các quyền và nghĩa vụ của mình là cơ hội tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận đóng góp công sức và trí tuệ nhằm giải quyết các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý.
2.2.3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp hai yếu tố tập trung và dân chủ. Hai yếu tố này tác động qua lại, vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước, hai yếu tố tập trung và dân chủ luôn được coi trọng như nhau, không hạn chế nhau. Coi trọng quá mức hoặc hạn chế một yếu tố nào đều làm cho hoạt động quản lý kém hiệu quả.


1

Bài giảng Luật hành chính GV: Nguyễn Thị Hà



bởi admin lúc Mon, Apr 16 '18 11:40 AM

Môn học này cung cấp cho người học về những kiến thức cơ bản về hoạt động quản lý hành chính nhà nước và những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và viên chức. - Cùng với công cuộc cải cách hành chính hiện nay trong nhiều lĩnh vực và yêu cầu của quá trình dân chủ ở cơ sở là những đòi hỏi khách quan để tăng quyền chủ động quản lý và điều hành của bộ máy hành pháp, nhất là ở các cấp địa phương, nơi tập trung quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân và người lao động;
.doc 776320.doc
Kích thước: 409 kb
Lần tải: 2 lần
Download